Hai loại phí mà cục Đường bộ đưa ra hôm 22.11.2007 không chỉ gây quan ngại vì những khoản chi phí mà người dân có thể sẽ phải đóng. Điều đáng lo là nạn kẹt xe ở Hà Nội và TP.HCM sẽ không mấy hy vọng được giải quyết, nếu năng lực của cơ quan tham mưu chính sách lại chỉ có thể đưa ra được những giải pháp thế này. Chính sách không thể được hình thành một cách ngẫu hứng và các bế tắc sẽ khó mà giải toả nếu các nhà quản lý cứ bị “nhốt” trong não trạng cấm đoán hoặc thu tiền.
![]() |
|
Đến một lúc nào đó, sẽ phải hạn chế và lý tưởng hơn là giảm lượng xe máy xuống mức bằng không. Tuy nhiên, cả hai thành phố chỉ có thể làm được điều ấy khi giao thông công cộng đáp ứng được từ khoảng 65 – 70% nhu cầu đi lại. Ảnh : Trần Việt Đức |
Cục đề nghị thu phí lưu hành vào giờ cao điểm tại một số tuyến có mật độ giao thông lớn ở Hà Nội và TP.HCM. Theo đề nghị, xe lưu thông vào các giờ cao điểm, trên các tuyến đường này sẽ phải nộp 10.000 đồng/ngày, với xe máy; 20.000 đồng/ngày, với xe hơi. Các chuyên gia đưa ra sáng kiến ấy chắc cũng đã từng đến TP.HCM hay Hà Nội. Trong giờ cao điểm làm gì có mấy tuyến đường ở hai thành phố ấy xe cộ không lưu thông với mật độ cao! Có thể là cục tiếp thu kinh nghiệm này của Singapore, nhưng Singapore là một thành phố hoàn toàn khác. Ở Singapore, người dân nếu không thích nộp phí cao để vào trung tâm vào giờ cao điểm bằng xe của mình thì có thể sử dụng tàu điện ngầm hay buýt.
Quy định tăng mức phí đăng ký mới xe cộ lên bằng từ 30 – 50% giá trị xe cũng là một quy định không rõ là nhằm để thu tiền hay làm giảm số lượng xe. Khi mà giao thông công cộng vừa bất tiện, vừa chỉ có thể đáp ứng chưa tới 5% nhu cầu đi lại của người dân, thì bất luận giá xe cao bao nhiêu, người dân cũng phải tự sắm cho mình một phương tiện đi lại. Số đầu xe lưu thông trên đường phố sẽ không giảm trong khi người dân sẽ phải chi phí nhiều hơn cho việc đi lại của mình.
“Sáng kiến” bắt buộc học sinh cấp III và sinh viên tới trường bằng phương tiện giao thông công cộng cũng hết sức duy ý chí. Nếu nhà nước có khả năng đưa ra nhiều lựa chọn thì sử dụng các biện pháp kinh tế để khuyến khích người dân chọn hay không chọn loại phương tiện nào đó. Buộc học sinh, sinh viên phải chọn buýt không chỉ là một quyết định không có khả năng thực hiện mà còn vi hiến. Chúng ta đang ở một thời điểm mà Nhà nước không còn cái quyền bắt dân phải dùng hay không dùng một phương tiện đi lại nào đó.
|
Giao thông ở hai thành phố lớn hiện nay đang quá tải. Mục tiêu của các giải pháp đặt ra là làm sao để hạn chế mức tăng các phương tiện giao thông chứ không phải là để thu tiền |
Cục cũng dự định “cấm ô tô chỉ có một mình lái xe lưu thông trên một số tuyến đường trong giờ cao điểm”. Ở nhiều nước để khuyến khích người dân tiết kiệm, trên một số tuyến đường, những làn đường có thể chạy với tốc độ cao được dành riêng cho những chiếc xe chở ít nhất hai người trở lên. Ở Việt Nam nếu cấm, lái xe sẽ đi đón “sếp” bằng đường nào?
Như chúng tôi đã từng đề cập, giao thông ở hai thành phố lớn hiện nay đang quá tải. Mục tiêu của các giải pháp đặt ra là làm sao để hạn chế mức tăng các phương tiện giao thông chứ không phải là để thu tiền. Ở Hà Nội mỗi ngày hiện đang có thêm 700 xe mô tô và khoảng từ 120 -140 xe hơi đăng ký mới. Nếu theo mức tăng này thì chỉ một thời gian ngắn nữa, đường sá của hai thành phố sẽ không còn đủ rộng để làm bãi… đậu xe. Với thu nhập hiện nay, việc nâng mức phí đăng ký lên tuy có gây khó khăn thêm cho người nghèo, nhưng họ cũng sẽ phải cố để có được chiếc xe gắn máy. Còn người giàu, đặc biệt là dân xe hơi, biện pháp thu phí sẽ không “đáng kể” gì với họ cả.
Đến một lúc nào đó, sẽ phải hạn chế và lý tưởng hơn là giảm lượng xe máy xuống mức bằng không. Tuy nhiên, cả hai thành phố chỉ có thể làm được điều ấy khi giao thông công cộng đáp ứng được từ khoảng 65 – 70% nh3 cầu đi lại. Trong điều kiện hiện nay, hạn chế xe máy là duy ý chí. Trừ những loại xe mô tô cồng kềnh mà người mua nó, chắc chắn không phải vì nhu cầu thiết yếu.
Nhưng, xe hơi cá nhân lại là một vấn đề khác. Hạn chế xe hơi, gần như không ảnh hưởng tới nhu cầu đi lại của ai cả. Việc hạn chế xe hơi cá nhân ở hai thành phố, chỉ có thể sẽ gặp sự phản đối của những nhà lắp ráp xe hơi thế lực, nhưng, nó sẽ nhận được sự chia sẻ của đa số người dân.
Như chúng tôi đã trình bày “kinh nghiệm Thượng Hải” ở các số báo trước. Hai thành phố cần tính toán mức gia tăng số lượng đầu xe hơi cá nhân hợp lý để từ đó đưa ra một “hạn ngạch” thích ứng. Hạn ngạch này chắc chắn không đáp ứng nhu cầu của mọi người muốn có xe hơi. Nên, để công bằng, thành phố nên cho đấu giá. Số tiền mà Thượng Hải thu được thông qua việc đấu giá các “biển số” là không nhỏ và nó được dùng đầu tư trở lại để phát triển hạ tầng.
Để tránh hiện tượng đăng ký xe ở tỉnh mang lên lưu hành tại thành phố, chỉ những xe có biển số thành phố mới được lưu hành trong nội thành. Xe tỉnh chỉ được chạy ở những tuyến vành đai và nếu đi vào nội thành, họ sẽ phải lựa chọn: đóng một khoản phí cao hay là đi taxi.
Theo một nghiên cứu do chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP.HCM thực hiện ở ba thành phố: Jakarta, Thượng Hải, TP.HCM thì nguồn thu thường xuyên từ các loại phí sử dụng các phương tiện giao thông ở TP.HCM là thấp nhất. Người dân thành phố, sử dụng xe máy hay xe hơi, hoàn toàn có thể tham gia thêm một số loại phí hợp lý, nếu như dân chúng được thuyết phục, những khoản đóng góp của họ sẽ được sử dụng đúng để cải thiện tình hình hạ tầng.
Một thành phố 6, 7 triệu dân mà dân chúng không có thói quen sử dụng giao thông công cộng thì quả là bế tắc. Nhưng nghĩ, có thể khai thông bế tắc bằng cách dùng tiền “đánh” vào phương tiện cá nhân thì lại rất chủ quan. Giải quyết tình trạng giao thông ở Hà Nội và TP.HCM đòi hỏi phải có những chính sách khẩn trương, quyết liệt. Nhưng những chính sách như thế, phải được nghiên cứu thấu đáo, phân tích khoa học và ban hành theo đúng quy trình.
Huy Đức
![]()





Phản hồi gần đây